Quy tắc làm thơ

Nơi Dành Cho Những Tâm Hồn Lãng Mạn, Đã Yêu, Đang Yêu Và Sắp Yêu Vô Đây Để Thả Hồn Theo Mây Gió ....

Thành viên đã đọc đề tài này Qui a vu ce topic ?

Quy tắc làm thơ

Gửi bàigửi bởi Khôi Việt » T.Hai Tháng 8 21, 2006 8:34 am

Để tiện cho quí bạn tham khảo, KV xin sưu tầm và post Quy tắc làm thơ về các thể thơ Lục bát và Song thất lục bát, Tứ tuyệt Đường luật, Ngũ ngôn bát cú Đường luật, Thất ngôn bát cú Đường luật. Đa phần lược trích từ các tác phẩm do tác giả Trần Trọng Kim biên soạn.

Sinh vào cuối thế kỷ 19, tác giả vừa là nhà sư phạm vừa là nhà mô phạm, đồng thời cũng nghiên cứu Sử Việt, Phật Giáo, Lão Giáo. Sách đã xuất bản gồm có Việt Nam Sử Lược, Nho Giáo 2 bộ, Việt Nam Văn Phạm, Đường Thi, Việt Thi... và nhiều sách giáo khoa cho học sinh vào những năm đầu của thế kỷ 20. Tác giả mất vào khoảng năm 1953 tại Hà Nội.


Ghi chú: Xin quí bạn đừng Reply nơi đây. Có gì sai sót hoặc cần góp ý làm ơn PM cho Khôi Việt. Thanks.


QUI TẮC LÀM THƠ

1/ TIẾNG BẰNG TIẾNG TRẮC

Theo chữ Quốc Ngữ , thì Tiếng BẰNG là những tiếng có giọng êm dịu và có thể đọc kéo dài ra được như chữ không có dấu huyền gọi là giọng bằng cao và chữ có dấu huyền gọi là giọng bằng thấp .

Tiếng TRẮC là những tiếng có giọng ngắn ngủn , không đọc dài ra được, như những tiếng có chữ C , CH , P , T đứng ở cuối tiếng và những tiếng có dấu sắc, ngã , hỏi, nặng .

Vì âm hưởng tiếng Bằng và tiếng Trắc , khác nhau như thế cho nên phải xếp những tiếng ấy cho khéo thì mới tạo thành ra một thứ âm điệu nghe hay và dễ đọc . Nếu không , thì đọc lên sẽ sượn và nghe chướng tai

2/ TIẾNG BỔNG TIẾNG TRẦM

Trong những tiếng BẰNG và tiếng TRẮC , tiếng nào cũng có thứ tiếng BỔNG và tiếng TRẦM .

Tiếng BỔNG trong tiếng Bằng là những tiếng KHÔNG có dấu huyền

Ví dụ: chữ La

Tiếng TRẦM là những tiếng Có dấu huyền .

Ví dụ: chữ Là

Khi ta đọc chữ La và chữ Là tuy hai chữ cùng là tiếng bằng, song hai chữ đó có âm giọng khác nhau, chữ Là nghe thấp giọng hơn chữ La


Tiếng BỔNG trong tiếng Trắc là những tiếng có dấu sắc và dấu ngã

Ví dụ: Lá , Lã

Tiếng TRẦM là những tiếng có dấu hỏi và đấu nặng

Ví dụ: Lả , Lạ

Nếu chúng ta biết sắp xếp đúng tiếng Trầm và tiếng Bổng thì bài thơ nghe du dương hơn .
Dầu vậy khi làm thơ Lục Bát thì câu Bát chữ thứ 6 là tiếng Trầm thì chữ thứ 8 phải là tiếng Bổng
Hoặc nếu trong câu bát chữ thứ 6 là tiếng Bổng thì chữ thứ 8 phải là tiếng Trầm, nói cho dễ hiểu hơn là

Trong câu BÁT , chữ thứ 6 là KHÔNG DẤU thì chữ thứ 8 phải là dấu HUYỀN
Nếu chữ thứ 6 la`dấu HUYỀN thì chữ thứ 8 phải là KHÔNG DẤU
Đó là luật định cho câu thơ Lục Bát

3/VẦN

Làm thơ thì phải có vần thì đọc nghe êm và trôi chảy . VẦN nghĩa là tiếng này với tiếng kia có cùng âm-hưởng . Tiếng bằng vần với tiếng bằng , tiếng trắc vần với tiếng trắc, khi hai tiếng đồng một giọng phát âm thì thành vần được . Hai tiếng không đúng vần với nhau thì âm điệu sẽ lạc như vậy là trái luật thơ

a) Những tiếng có chữ nguyên âm như : a , e , ê , i , o , ô , ơ , u , ư đứng ở cuối tiếng, thì theo tiếng bằng tiếng trắc mà vần với tiếng khác cũng có một chữ nguyên-âm đồng loại đứng ở cuối tiếng

b) Những tiếng có chữ phụ âm như: c , ch , m , n , ng , nh , p , t đứng cuối tiếng, thì nhất định phải vần với tiếng khác cũng có phụ-âm đồng loại đứng ở cuối tiếng

Vần chia ra làm hai loại : vần bằng và vần trắc .

Vần bằng là những tiếng bằng vần với nhau, vần trắc là những tiếng trắc vần với nhau

Mỗi loại vần ấy lại chia ra làm hai thứ vần, là vần chính và vần thông

A/ Vần chính

Vần chính của vần bằng - là những tiếng cùng đồng một âm vần với nhau như : ơ vần với ơ , ân vần với ân hay uôn vần với uôn

Ví dụ:

Hôm nay tôi học làm thơ
Ðọc xong đường luật muốn mờ mắt luôn
Khi làm thơ phải cho suôn
Luật thơ Bằng Trắc vô khuôn Âm Vần



Vần chính của vần trắc- là những tiếng cùng đồng một âm vần trắc với nhau như : ở vần với ở , ước vần với ước

Ví dụ:

Nhìn cúc tím vàng tươi chợt nở
Giống tình anh mới trở cơn say

Anh ở đó luôn chờ đợi ước
Mùa Thu nào sẽ bước bên nhau


B/ Vần thông

Vần thông là những tiếng tuy không cùng một âm như các vần chính , nhưng có thể hợp để vần với nhau , do nơi sự vận dộng của môi và lưỡi khi phát âm nghe gần như giống nhau nên người ta gọi là vần thông
Sau đây là những vần ta có thể thế vô cho vần để được linh hoạt hơn trong khi làm thơ .

1/ Vần thông của vần bằng
a) những vần thông có chữ nguyên-âm đứng ở cuối tiếng

a, ơ --> thông với nhau được

Vidụ :

Vần thông ghép chữ như là
Đi chung được với chữ tờ này đây

Ví dụ: ơ, ư

Ơ Ư cũng dễ lắm cơ
Bây giờ bạn ráp chữ thư được mà

Ví dụ: e, ê, i

Nhờ E có nghĩa là nhe
Gờ hÌ ta có ôm ghì đầu thôi

có ai nhức đầu hong vậy ?

Thêm câu hỏi cái chữ gì ?
Vì vô đây học nhớ về vần thông

Ví dụ: o, ô, u

Hôm nay trời có mưa to
Nhớ mở nắp hồ cho nước chảy vô (lục bát biến thể )
Đầy rồi thì hứng thêm lu
Phòng khi cúp nước khỏi lo sợ gì

Ví dụ: ai, ay
Mong rằng trời nắng ngày mai
Bao nhiêu bạn đến hăng say làm bài

ai, oi, ôi, ơi, ươi, ui
ao, eo, êu, iêu, iu, ưu

b) Những vần thông có phụ âm đứng cuối tiếng

am, ơm --> đi chung với nhau được
ăm, âm
êm, im
an, ơn
ăn, ân, uân

en, in, iên, uyên
on, ôn, uôn
on, un
ang, ương --> nhưng không đi được với uông

ăng, âng , ưng
ong, ông, ung
uông, ương
anh, ênh, inh --> đi chung với nhau được

2/ Vần thông của vần trắc

é, ị --> đi chung với nhau được
ổ, ũ
ọ, ủa
ĩa, uệ
áo, iễu
ói, ủi
ác, ước
ấc, ực
ạm, ợm
ặn, ẩn
óng, úng
ật, ắt
ật, ứt
út, uốt

** Có bốn điều hệ-trọng nên nhớ trong sự gieo vần quốc-ngữ

1.- Trong sự gieo vần quốc-ngữ, có ba âm: a, ă, â ghép với một phụ-âm c, m, n, p, t thành một âm ghép như:

ac, ăc, âc
am, ăm, âm
an, ăn, ân
ap, ăp, âp
at, ăt,ât

những vần ghép ấy chỉ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng trên ví dụ:

Bát thông được với bắt, bất mà không thông được với cắt , cất, mắt, mất
Lam đi với lăm, lâm, nhưng không thông với băm, bâm, trăm, trâm
Quan đi với quăn, quân, nhưng không thông với chăn, chân, nhăn, nhân v.v... Đó là do cách hiệp vận do âm-điệu điều-hoà mà thành lệ

2.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba chữ nguyên-âm với một phụ- âm đứng cuối như: iên, uyên, uân, uôn, thì người ta lấy hai chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên

en, in vần với yên, uyên

ân vần với uân

ơn vần với oan

on vần với uôn

khi có vần ghép bằng hai chữ nguyên-âm với hai chữ phụ-âm như ương, thì người ta lấy ba chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên

ang thông với ương

uông thông với ương nhưng không thông với ang, vì a không thông được với ô

3.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba nguyên-âm thì người ta theo âm điệu mà lấy một hay hai chữ nguyên âm làm vận căn, như:

oa, oe, uê, uy

thì vận căn ở chữ a, e, ê, y, cho nên

oa vần với a

oe vần với e

uê vần với ê

uy vần với i

uây vần với ây

Những vần ia, uya, ua, ưa , thì vận căn lại ở chữ i, y, u, ư mà chữ a đứng ở cuối tiếng không có ảnh-hưởng gì cả .

4.- Hai tiếng đồng âm và đồng nghĩa thì không vần được với nhau, song hai tiếng tuy đồng âm mà khác nghĩa, tức là hai tiếng khác nhau, thì vần với nhau được.


(From Butta: Quê Việt)

(Xin bày tỏ lòng biết ơn tới Tác giả và các nhà Sưu tầm đã đọc và lược trích một cách ngắn gọn và súc tích - Khôi Việt)
Khôi Việt

Chuyên gia gây rồi miễn phí và gỡ rối mướn
Hình đại diện của thành viên
Khôi Việt
Thân hữu
 
Số năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham gia
 
Bài viết: 9
Ngày tham gia: T.Sáu Tháng 8 18, 2006 4:08 am
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn: 1 lần trong 1 bài gửi

Gửi bàigửi bởi Khôi Việt » T.Hai Tháng 8 21, 2006 8:46 am

Thơ lục bát

Lục bát là thể thơ đặc biệt của Việt Nam, mà truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất. Vần thơ lục bát có thể phân tách như sau:

2 4 6
bằng trắc bằng
2 4 6 8
bằng trắc bằng bằng

Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát. Tiếng thứ 8 của câu bát vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo. Trong câu bát, tiếng 6 và 8 tuy cùng vần bình nhưng một tiếng có dấu huyền và một tiếng không có dấu.

Thôn đoài ngồi nhớ thôn Ðông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Nguyễn Bính


Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.

Huy Cận

Có hai ngoại lệ trong thơ lục bát:

1. Tiếng thứ 2 câu lục có thể là trắc, khi ấy nhịp thơ ngắt ở giữa câu.

Người nách thước, kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi.

Nguyễn Du

2. Tiếng cuối câu lục có thể vần với tiếng 4 câu bát, khi đó tiếng 2 và 6 của câu bát sẽ đổi ra trắc. Câu thơ sẽ ngắt nhịp ở giữa câu bát, như trong câu ca dao sau:

Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

*********
<Sưu Tầm>
Sửa lần cuối bởi Khôi Việt vào ngày T.Hai Tháng 8 21, 2006 9:08 am với 1 lần sửa.
Hình đại diện của thành viên
Khôi Việt
Thân hữu
 
Số năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham gia
 
Bài viết: 9
Ngày tham gia: T.Sáu Tháng 8 18, 2006 4:08 am
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn: 1 lần trong 1 bài gửi

Gửi bàigửi bởi Khôi Việt » T.Hai Tháng 8 21, 2006 9:07 am

Song thất lục bát

Đây cũng là một thể thơ đặc thù của VN, gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát. Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này. Trong câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, 5 bình, 7 trắc; trong câu thất dưới, tiếng thứ 3 là bình, 5 trắc, 7 bình. Hai câu lục bát thì theo luật thường lệ.
Tiếng cuối câu thất trên vần với tiếng 5 câu thất dưới, tiếng cuối câu thất dưới vần với tiếng cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát. Và tiếng cuối câu bát vần với tiếng 5 của câu thất tiếp theo. Tuy nhiên, tiếng cuối câu bát cũng có thể vần với tiếng 3 câu thất, biến tiếng này đổi sang vần bình. Do đó, tiếng 3 trong câu thất trên có thể là trắc hay bằng.


3 5 7
trắc/bằng bằng trắc
3 5 7
bằng trắc bằng

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.
(Đặng Trần Côn)

<Sưu Tầm>
*********
Hình đại diện của thành viên
Khôi Việt
Thân hữu
 
Số năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham gia
 
Bài viết: 9
Ngày tham gia: T.Sáu Tháng 8 18, 2006 4:08 am
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn: 1 lần trong 1 bài gửi

Gửi bàigửi bởi Khôi Việt » T.Hai Tháng 8 21, 2006 9:09 am

Thơ bảy chữ

Trong thơ bảy chữ, vần những tiếng 1, 3 và 5 không kể. Tiếng 2, 4 và 6 có thể phân tích như sau:

2 4 6
bằng trắc bằng
2 4 6
trắc bằng trắc

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người

Xuân Diệu

Nhiều khi không lại như thế:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Hàn Mặc Tử
Cách gieo vần

1. Vần tréo (thường dùng)

Nhiều khi trong thi đoạn bốn câu, chỉ cần hai tiếng bình ở cuối câu hai và bốn vần với nhau, hai tiếng trắc cuối câu một và ba không cần:

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn,
Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ!
Một hôm trận gió tình yêu lại:
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ.

Huy Cận

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

Tô Thùy Yên

2. Vần ba tiếng bằng (thường dùng)

Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.

Huy Cận

Dĩ vãng nào xanh như mắt em?
Chao ôi! Màu tóc rợn từng đêm!
Hàng mi khuê các chìm sương phủ
Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm.

Đinh Hùng

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Quang Dũng

*********
<Sưu Tầm>
Hình đại diện của thành viên
Khôi Việt
Thân hữu
 
Số năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham gia
 
Bài viết: 9
Ngày tham gia: T.Sáu Tháng 8 18, 2006 4:08 am
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn: 1 lần trong 1 bài gửi

Gửi bàigửi bởi Khôi Việt » T.Hai Tháng 8 21, 2006 9:14 am

Thơ tám chữ


Thể thơ này không có quy luật nhất định, có nghĩa là vần điệu tự do hơn. Thường thì trong câu ở cuối có tiếng trắc thì tiếng 3 trắc, tiếng 5 và 6 bằng; ở cuối có tiếng bằng thì tiếng 3 bằng, tiếng 5 và 6 trắc. Nhưng nhiều lúc cũng không như thế.
Cách gieo vần

1. Vần tiếp

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,
Tôi sẽ trách -- cố nhiên -- nhưng rất nhẹ;
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa...

Hồ Dzếnh

2. Vần tréo

Hai đứa kéo nhau chạy vào mộng mị
Giờ tắt thở nằm trên bãi hư vô
Bầy ngựa chứng hàng thùy dương vó bão
Gió đưa trăng lăn vào đá tiếng ru

Tô Thùy Yên

Em sẽ chết với mảnh hồn trống đó
Chúa đứng đón em ở cửa thiên đường
Con trả chúa trái tim hồng lãng mạn
Dưới thế gian con dại dột cho chàng

Trần Mộng Tú

3. Vần ôm

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Tôi thay mực cho vừa màu áo tím.

Nguyên Sa

Không có em, chắc ngày mai anh chết
Anh sẽ buồn, sẽ kết tội trần gian
Nắng sẽ phôi pha, hoa sẽ úa tàn
Cây thành phố hai hàng giăng nước mắt

Vũ Thành

Muốn cho thơ tám tiếng thêm âm điệu, một số nhà thơ thường vần tiếng 8 câu trên với tiếng 5 hay 6 câu dưới:

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng, uất hận gối lên nhau

Cao Tần

<Sưu Tầm>
Hình đại diện của thành viên
Khôi Việt
Thân hữu
 
Số năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham gia
 
Bài viết: 9
Ngày tham gia: T.Sáu Tháng 8 18, 2006 4:08 am
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn: 1 lần trong 1 bài gửi

Gửi bàigửi bởi Nắng Xuân » T.Năm Tháng 8 24, 2006 8:02 pm

Thi Luật

(Sưu tầm từ Non Sông)

Sự phối trí thanh và âm

Loại thanh / Tên các thanh /Dấu chỉ thanh
Bằng........./phù bình thanh/ không có dấu
................trầm thượng thanh /dấu huyền


Trắc......./phù thương thanh / dấu ngã (~)
............../trầm thương thanh/dấu hỏi (?)
............../phù khứ thanh/ dấu sắc (')
............../trầm khứ thanh/ dấu nặng (.)


Riêng cho các tiếng đằng sau có các phụ âm ch, p, và t thì:
............../phù nhập thanh/ dấu sắc (')
............../ trầm nhập thanh / dấu nặng (.)

(Hệ thống thanh trong tiếng Việt (Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm)


Bình là bằng phẳng, đều đều, bình thường; trắc là nghiêng lệch. Âm thanh đang ở mức bình thường (bình thanh) chợt bổng lên cao hay đổ xuống thấp hơn (trắc thanh).

Nếu lựa từ sao cho có âm và thanh tương hợp thì khi đọc lên sẽ nghe êm tai, ta gọi lời văn có vần. Hai tiếng vần với nhau khi có âm tương tự và có cùng thanh (hoặc là cùng bình thanh hoặc là cùng trắc thanh). Trong thơ, vấn đề hợp vần là điều cốt yếu. Sự phối trí âm thanh nhịp điệu là yếu tố cơ bản của thơ.

1. Vần có 2 thứ:

a. bình: những chữ không dấu hoặc dấu huyền — hai, hài
b. trắc: những chữ có dấu hỏi, ngã, sắc, nặng — hải, hãi, hái, hại
Tiếng bình không vần với tiếng trắc: hai không vần với hải.

Cùng trông mà lại cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai?

Những tiếng "thấy", "mấy" cùng phát ra một âm "ây" cùng gieo trắc thanh. Những tiếng "dâu", "màu", "sầu" có âm "âu" và "au" tương tự, cùng gieo bình thanh. Tất cả từng cặp một như thế gọi là vần với nhau.

2. Vần thể giàu hay nghèo:

a. Vần giàu: những tiếng có cùng âm và thanh
Phương, sương, cường, trường — vần bằng giàu
Thánh, cảnh, lãnh, ánh — vần trắc giàu

b. Vần nghèo: đồng thanh nhưng với âm tương tự
Minh, khanh, huỳnh, hoành — vần bằng nghèo
Mến, lẽn, quyện, hển — vần trắc nghèo

3. Trong thơ Việt, có 2 cách gieo vần

a. Gieo vần ở giữa câu:

Tiếng cuối của câu trên vần với một tiếng nằm bên trong câu dưới. Như trong thể thơ lục bát, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát theo sau.

Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không.

(Nguyễn Du)

b. Gieo vần ở cuối câu:

Các tiếng cuối câu vần với nhau.
Vần tiếp: các cặp trắc bằng xen kẽ tiếp nhau
Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm,
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.
Không gì buồn bằng những buổi chiều êm,
Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối.
Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối;
Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành;
Mây theo chim về dãy núi xa xanh
Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ.
Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.

(Xuân Diệu)

Vần tréo: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1 vần với câu 3 và tiếng cuối câu 2 vần với câu 4.

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

(Vũ Ðình Liên)

Nhiều khi chỉ cần tiếng cuối câu 2 vần với câu 4 thôi.

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

(Quang Dũng)

Vần ôm: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1 vần với câu 4 và tiếng cuối câu 2 vần với câu 3. Vần trắc ôm vần bằng, hay ngược lại.

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

(Nguyên Sa)

Vần ba tiếng: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1, 2 và 4 vần với nhau. Câu 3 khác vần.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

(Thâm Tâm)


Sách báo tham khảo:

Luật Thơ Mới, Nguyễn Đình Tuyến
Nghĩ Về Thơ, Nguyễn Hưng Quốc
Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân
Tiếng Việt Tuyệt Vời, Đỗ Quang Vinh
Tìm Thơ Trong Tiếng Nói, Đỗ Quý Toàn
Văn Học Việt Nam
Nắng Xuân

Bạn có gì khó khăn trong cuộc sống, muốn trút bầu tâm sự hoặc tìm kiếm sự cảm thông, chia sẻ hay tư vấn, xin cứ gọi cho tôi. xin cứ gọi cho tôi: 1900.6640 sau khi nghe lời chào, hãy bấm chọn số 206 để gặp trực tiếp Nắng Xuân nhé.
Hình đại diện của thành viên
Nắng Xuân
Tri kỷ
 
Số năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham giaSố năm tham gia
 
Bài viết: 136
Ngày tham gia: T.Sáu Tháng 8 18, 2006 5:39 am
Đến từ: Cần Thơ
Cảm ơn: 6
Được cảm ơn: 6 lần trong 6 bài gửi


Quay về Poem - Vườn Tao Đàn

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.2 khách.